TIN TỨC
DU LỊCH
HỘI CHỢ TRIỂN LÃM
XÚC TIẾN ĐẦU TƯ
CƠ HỘI GIAO THƯƠNG
DOANH NGHIỆP
VĂN BẢN PHÁP LUẬT
TIN GIÁ CẢ THỊ TRƯỜNG
LỄ HỘI CÀ PHÊ 2011
HÌNH ẢNH VỀ ĐẮK LẮK
GIÁ VÀNG & USD (09/09/2010)
LOẠIMUABÁN
Vàng (97%) 2842 Ng.đ/chỉ 2892 Ng.đ/chỉ
Vàng (99%) 2935 Ng.đ/chỉ 2945 Ng.đ/chỉ
Đô la Mỹ 19480 đ/USD 19500 đ/USD
Chi tiết
GIÁ CAFE(09/09/2010)
THỊ TRƯỜNGGIÁ
Luân Đôn 1635 USD/tấn
FOB(TPHCM) 1535 USD/tấn
ĐăkLăk nhân xô 28700 đ/Kg
R2B (R2,S13,5%) 29000 đ/Kg
R1C (R1,S16,2%) 29400 đ/Kg
R1A (R1,S18,2%) 29600 đ/Kg
Chi tiết
GIÁ NÔNG SẢN(09/09/2010)
NÔNG SẢNGIÁ
Cacao lên men(Cargill) 51100 đ/Kg
Hạt tiêu 71000 đ/Kg
Mật Ong (Nguyên chất) 55000 đ/kg
Chi tiết
Trang chủ : TIN TỨC>Tin trong tỉnh
Một số thành tựu về kinh tế - xã hội sau 35 năm thống nhất Tổ quốc
1.Thành tựu kinh tế – xã hội tỉnh Dak Lak:
Sau 35 năm giải phóng, đặc biệt là qua gần 25 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, Đảng bộ, quân và dân các dân tộc trong tỉnh đã phát huy tinh thần Chiến thắng 10-3, truyền thống đoàn kết, lao động cần cù, sáng tạo, đã giành được nhiều thành tựu to lớn và rất quan trọng trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa – xã hội, quốc phòng – an ninh, xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị; tạo ra thế và lực mới cho Dak Lak trên chặng đường phát triển tiếp theo.

Nền kinh tế liên tục tăng trưởng và duy trì được tốc độ tăng trưởng cao, hơn mức tăng trưởng trung bình của cả nước. Giai đoạn 2006-2008, tốc độ tăng trưởng GDP trung bình đạt 12,68%; trong đó nông – lâm – ngư nghiệp tăng 6,32%; công nghiệp – xây dựng tăng 19,99%, dịch vụ tăng 24,95%, xuất khẩu đạt 1,637 tỷ USD (lũy kế đến năm 2009 đạt 2,237 tỷ USD), nhập khẩu đạt 72,5 triệu USD (lũy kế đến năm 2009 đạt 96,5 triệu USD). Chỉ riêng năm 2009, mặc dù gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu, nhưng tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) của tỉnh tăng 11% so với năm 2008. Thu nhập bình quân đầu người đạt 13,9 triệu. Cơ sở hạ tầng tiếp tục được đầu tư, hoàn thiện: điện thoại đạt tỷ lệ 121 máy/100 dân, internet đạt tỷ lệ 21 thuê bao/ 100 dân; 89% số hộ dân nông thôn được sử dụng điện; 83,9% đường đến trung tâm xã đã được nhựa hóa; thủy lợi bảo đảm tưới cho 55% diện tích cây trồng có nhu cầu tưới.
Nông nghiệp, nông thôn chuyển dịch theo hướng thị trường; sản lượng cà phê bình quân hàng năm đạt khoảng 400 ngàn tấn, dẫn đầu cả nước. Sản lượng lương thực năm 2009 đạt 989.000 tấn. Tỷ lệ độ che phủ rừng đạt 48,9%. Cơ cấu ngành kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tỷ trọng của ngành nông nghiệp giảm và tỷ trọng các ngành công nghiệp, dịch vụ tăng dần. Nông – lâm – nghiệp giảm từ 59,5% (2006) xuống còn 53% (2009); công nghiệp – xây dựng tăng từ 15,3% (2006) lên 17% (2009); thương mại – dịch vụ tăng từ 25,2% (2006) lên 30% (2009). Tỷ lệ hộ nghèo giàm từ 23,3% (2006) xuống còn 12,5% (2009). Tổng thu ngân sách trên địa bàn hàng năm luôn vượt kế hoạch, năm 2006 là 1.034 tỷ đồng, năm 2007 đạt 1.572 tỷ đồng, năm 2008 đạt 1.844 tỷ đồng, năm 2009 ước đạt 2.219 tỷ đồng.
Công nghiệp – xây dựng không ngừng phát triển, năm 2009 tăng 16% so với năm 2008. Giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá cố định 1994) đạt 3.200 tỷ đồng. Các cụm, khu công nghiệp đang được khai thác, đầu tư và đi vào hoạt động. Đến nay, có 330 dự án đầu tư trong nước, với tổng số vốn đầu tư hơn 45.000 tỷ đồng. Có 29 dự án viện trợ phát triển chính thức (ODA), trong đó UBND tỉnh là cơ quan chủ quản của 16 dự án, với tổng vốn 1.320 tỷ đồng.
Hoạt động văn hóa thông tin được đẩy mạnh, bản sắc văn hóa truyền thống dân tộc được giữ gìn và phát huy; toàn tỉnh có trên 70% xã có nhà văn hóa và hầu hết các dân buôn đồng bào dân tộc thiểu số có nhà sinh hoạt văn hóa cộng đồng. Phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa được triển khai sâu rộng ở các địa phương, đơn vị; tỷ lệ số hộ đạt tiêu chuẩn văn hóa đạt 72%. 100% số hộ được phủ sóng Đài Tiếng nói Việt Nam và 99% số hộ được phủ sóng truyền hình; thông tin liên lạc được thông suốt, bảo đảm; 150/184 xã có báo Nhân dân đọc trong ngày. Phong trào thể dục thể thao và rèn luyện thân thể ngày càng phát triển.
Ngành giáo dục phát triển khá cả về quy mô và chất lượng. Đến nay, toàn tỉnh có 876 trường học các cấp, với 492.441 học sinh. Chất lượng giáo dục được nâng lên về mọi mặt, số lượng học sinh đoạt giải ở các kỳ thi học sinh giỏi quốc gia chiếm tỷ lệ cao. Đến nay có 100% huyện, thị xã, thành phố; 96% xã, phường, thị trấn đạt chuẩn phổ cập THCS; tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia chiếm 16%. Huy động được nhiều nguồn vốn để xây mới phòng học, trang thiết bị phòng học đạt chuẩn quy định.
Công tác y tế, bảo vệ sức khỏe nhân dân được chú trọng và đầu tư nâng cấp. Mạng lưới y tế cơ sở được mở rộng đến thôn, buôn. Đến nay, có 73,4% xã đạt chuẩn quốc gia về y tế; 75% số trạm y tế xã có đủ nhân lực và cơ sở hạ tầng đạt chuẩn quốc gia. Bình quân hàng năm cấp khoảng 700 ngàn thẻ khám chữa bệnh miễn phí cho các đối tượng theo Quyết định số 139/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, góp phần thực hiện tốt hơn việc chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, nhất là người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số.
Thực hiện các chính sách xã hội, tỉnh đã triển khai nhiều chương trình, dự án với nhiều nguồn vốn nhằm phát triển kết cấu hạ tầng như: điện, đường, trường, trạm, trung tâm cụm xã, nước sạch, các hoạt động khuyến nông, khuyến lâm… đã góp phần nâng cao trình độ sản xuất và cải thiện đời sống nhân dân các dân tộc trong tỉnh. Chương trình 134 của Chính phủ về hỗ trợ về đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo đã hoàn thành 100% kế hoạch về xây (hoặc sửa chữa) nhà ở, cấp đất ở, nước sinh hoạt; riêng đất sản xuất đạt 98% kế hoạch. Chương trình định canh, định cư, xóa đói giảm nghèo cho đồng bào dân tộc được triển khai đồng bộ, rộng khắp và đã đạt được những kết quả đáng khích lệ: Tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 12,5%; hàng năm đã tạo việc làm mới cho hàng chục ngàn lao động, nhất là lao động trong đồng bào dân tộc thiểu số.
Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội cơ bản ổn định; quốc phòng, an ninh được giữ vững. Hệ thống chính trị tiếp tục được củng cố, kiện toàn. Năng lực lãnh đạo và quản lý, điều hành của cấp ủy, chính quyền các cấp ngày càng được nâng lên. Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể quần chúng và các tổ chức chính trị – xã hội có nhiều chuyển biến tích cực, hướng mạnh hơn về cơ sở. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng có nhiều chuyển biến tốt. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức Đảng và đảng viên ngày càng nâng lên. Niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào sự nghiệp Đổi mới ngày càng được củng cố. Những kết quả đạt được là tiền đề vững chắc để thực hiện thành công các nhiệm vụ những năm tiếp theo.
2-Thành tựu kinh tế-xã hội của thành phố Buôn Ma Thuột:
Với vị trí là trung tâm của tỉnh, có nhiều tiềm năng, lợi thế để phát triển kinh tế-xã hội, thành phố Buôn Ma Thuột đã có những bước phát triển vượt bậc, đạt nhiều thành tựu quan trọng trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội. Trong những năm qua, kinh tế thành phố luôn tăng trưởng khá, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp – dịch vụ. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm đạt cao: thời kỳ 2001-2005 đạt 11,38%; 2006-2008 đạt 16,73%; năm 2009 đạt 20,09%.
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, năm 2009 công nghiệp – xây dựng 41,89%; thương mại – dịch vụ 46,83%; nông, lâm nghiệp 11,28%. GDP bình quân đầu người hàng năm tăng cao, năm 2009 đạt 24,7 triệu đồng.
Thu ngân sách tăng bình quân trên 20%/năm; năm 2009, tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn 717.290 triệu đồng.
Sản xuất công nghiệp, giai đoạn 2001-2008 đạt mức tăng trưởng bình quân 18,49% năm. Một số khu, cụm công nghiệp được hình thành như khu công nghiệp Hòa Phú, cụm công nghiệp Tân An v.v… Các cơ sở tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề truyền thống nhất là dệt thổ cẩm được chú trọng phục hồi và phát triển.
Hoạt động dịch vụ trên địa bàn thành phố phong phú, đa dạng, đáp ứng nhu cầu của nhân dân. Tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ tăng bình quân 23%/năm, mạng lưới chợ được bố trí đều khắp trên địa bàn, chợ trung tâm và một số chợ phường, xã được đầu tư xây dựng và sửa chữa nâng cấp. Nhiều siêu thị và trung tâm thương mại được hình thành. Các hoạt động dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, vận tải, bưu chính viễn thông phát triển nhanh.
Sản xuất nông lâm nghiệp, giai đoạn 2001-2008 đạt mức tăng trưởng bình quân 0,33%/năm. Năm 2009, tổng sản lượng lương thực có hạt đạt 40.456 tấn (tăng 10,2% KH).
Tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng nhanh, bình quân giai đoạn 2001-2008 tăng 29,05%/năm. Năm 2009, tổng giá trị thực hiện xây dựng đầu tư ước đạt 3.067 tỷ đồng, tăng 30,8% so với năm 2008.
Giáo dục – đào tạo đạt được nhiều kết quả ở các cấp học. Duy trì và giữ vững kết quả phổ cập giáo dục trung học cơ sở và phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, tỷ lệ đội ngũ giáo viên đạt chuẩn khá cao (từ trung học cơ sở trở xuống đạt 97,2%, trung học phổ thông đạt 100%). Hiện nay toàn thành phố có 34 trường mầm non, 54 trường tiểu học, 26 trường THCS, 11 trường THPT với tổng số học sinh 88.570; có 25 trường đạt chuẩn quốc gia.
Công tác xã hội hóa giáo dục được đẩy mạnh, nhất là THPT và mầm non, 100% phường, xã có trung tâm học tập cộng đồng.
Công tác khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân được nâng lên rõ rệt. Thực hiện tốt các chương trình mục tiêu quốc gia về y tế, y tế dự phòng có hiệu quả. Đã chủ động thực hiện các biện pháp phòng chống dịch bệnh, nhiều năm liền không xảy ra dịch bệnh.
Trên địa bàn thành phố có 6 bệnh viện với tổng số giường bệnh là 1.200 giường, 100% trạm y tế có bác sĩ, 85% phường, xã đạt chuẩn quốc gia về y tế.
Văn hóa – thông tin và thể thao tiếp tục phát triển, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” được giữ vững và phát huy. Năm 2009 có 74% gia đình, 39% tổ dân phố, thôn, buôn và 93,5% cơ quan đạt tiêu chuẩn văn hóa. Đến nay 100% thôn, buôn, tổ dân phố đã xây dựng hương ước. Việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc được chú trọng, tổ chức các hội thi văn hóa, thể thao các dân tộc, bước đầu khôi phục các lễ hội truyền thống… Hoạt động truyền thanh, truyền hình có nhiều tiến bộ, chất lượng tin bài được nâng lên. Đài phát thanh phường, xã phát huy tác dụng khá tốt, 100% phường, xã đều có đài phát sóng FM.
Chương trình xóa đói giảm nghèo, chính sách hỗ trợ người nghèo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số được đầu tư. Thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia theo Quyết định 132, 134, 139, 168 cơ bản hoàn thành; đã xây dựng và triển khai đề án ổn định và phát triển kinh tế-xã hội các buôn đồng bào dân tộc tại chỗ, chương trình giảm nghèo toàn thành phố. Thành phố không còn thôn, buôn đặc biệt khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 2,3% (năm 2006: 18,04%). Giải quyết việc làm được thực hiện khá tốt, hàng năm tạo thêm việc làm cho gần 7.000 lao động.
Về quốc phòng – an ninh, trật tự an toàn xã hội, Đảng bộ, chính quyền thành phố tập trung lãnh đạo, điều hành, phát huy sức mạnh tổng hợp, triển khai đồng bộ các biện pháp giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội. Các cấp ủy đảng, mặt trận tổ quốc, các đoàn thể, đội công tác, lực lượng vũ trang tăng cường bám cơ sở, phát động quần chúng, nâng cao nhận thức chính trị, làm cho đồng bào nhận rõ âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, ổn định tư tưởng, đẩy mạnh sản xuất, nâng cao đời sống của nhân dân. Bảo đảm giữ vững ổn định an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn.
Tập trung xây dựng thành phố thành khu vực phòng thủ vững chắc. Chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang bảo đảm số lượng, chất lượng, có bản lĩnh chính trị vững vàng và sẵn sàng hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Công tác giáo dục bồi dưỡng kiến thức quốc phòng toàn dân được triển khai tích cực, tạo sự chuyển biến trong nhận thức, tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Thực hiện tốt các chế độ chính sách hậu phương quân đội.
Các chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm được triển khai có hiệu quả; công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, tệ nạn xã hội và tai nạn giao thông được đẩy mạnh góp phần kiềm chế sự gia tăng tội phạm và đẩy lùi các tệ nạn xã hội; công tác cải cách tư pháp có nhiều tiến bộ, chất lượng ngày càng được nâng cao. Giải quyết kịp thời các vụ việc tranh chấp, khiếu kiện phức tạp, các vấn đề bức xúc trong nhân dân, không để xảy ra “điểm nóng”; bảo đảm giữ vững ổn định an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn.
Đảng bộ thành phố đã thường xuyên quan tâm, chăm lo công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị của thành phố nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động.
Thực hiện Nghị quyết của Tỉnh ủy và các Nghị quyết của Trung ương, Đảng bộ thành phố luôn quán triệt và xác định công tác xây dựng đảng là nhiệm vụ then chốt. Đã coi trọng công tác đổi mới, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Đảng bộ vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức; gắn chặt công tác lãnh đạo với công tác kiểm tra, giám sát. Đến nay, toàn thành phố có 64 cơ sở đảng trực thuộc, với 6.500 đảng viên; tỷ lệ đảng viên đủ tư cách, hoàn thành tốt nhiệm vụ hàng năm đạt trên 76% và trên 75% tổ chức cơ sở Đảng đạt danh hiệu trong sạch, vững mạnh.
Công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí cán bộ được triển khai bảo đảm quy trình, chất lượng, tiêu chuẩn và tỷ lệ, cơ cấu phù hợp. Nhìn chung đội ngũ cán bộ của thành phố phát huy tốt vai trò, trách nhiệm; trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, lý luận chính trị và hiệu quả công tác được nâng lên, cơ bản đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển thành phố.
Hoạt động của khối dân vận, mặt trận tổ quốc và các đoàn thể đã làm tốt công tác tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân phát triển sản xuất, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư; giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn.
Sai 35 năm giải phóng, vững bước đi lên dưới ánh sáng của công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, quân và dân các dân tộc Buôn Ma Thuột – Dak Lak đồng tâm, hiệp lực, trên dưới một lòng đã đạt được những thành tích đáng tự hào. Hiện nay nhân dân các dân tộc Buôn Ma Thuột – Dak Lak cùng nhân dân cả nước đang thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, thì một nguồn lực mạnh mẽ không thể thiếu trên bước đường đi tới tương lai, đó là tinh thần đoàn kết, lòng yêu nước nồng nàn, đức tính dũng cảm, kiên cường qua 105 năm tích lũy.
(Còn nữa)
Theo DakLak Online




- Ngày cập nhật : Thứ ba 09/03/2010 08:13(GMT+7)
[Trang in] [Quay lại]

CÁC BÀI KHÁC :
Thành lập Tiểu Ban Truyền thông - Đối ngoại và Tiểu ban Nội dung Lễ hội cà phê Buôn Ma Thuột lần thứ 3 – năm 2011 (09/09/2010)
Sẽ thành lập Trung tâm giao dịch bất động sản của tỉnh (08/09/2010)
HỒ EA SÚP THƯỢNG: Tưới xanh “vùng đất khát” (08/09/2010)
6 doanh nhân Đắk Lắk sẽ dự khánh thành tượng đài Thánh Gióng (07/09/2010)
Tiến độ thực hiện các dự án đầu tư tại Cụm công nghiệp tân An 1 và 2 (07/09/2010)
Tổng dư nợ cho vay nền kinh tế trong tháng 8 đạt trên 26.000 tỷ đồng (06/09/2010)
Thu ngân sách 8 tháng đầu năm đạt trên 2.000 tỷ đồng (06/09/2010)
Khởi công xây dựng Nhà máy chế biến cà phê hoà tan lớn nhất châu Á (06/09/2010)
Các doanh nghiệp đầu tư trồng 6.400 ha rừng và cao su (01/09/2010)
Đầu tư xây dựng Trụ sở làm việc của Công ty CP thủy điện Buôn Đôn. (01/09/2010)
  Thông tin mới

 

    Bản quyền của Trung tâm Xúc tiến Thương mại - Đầu tư - Du lịch Đắk Lắk
    09 Nguyễn Tất Thành , TP. Buôn Ma Thuột, Tỉnh Đắk Lắk, Việt Nam
    Cơ quan chủ quản : Ủy ban Nhân dân tỉnh Đăk Lăk
    Người chịu trách nhiệm chính : Phó Giám đốc Huỳnh Ngọc Dương
    Giấy phép số : 41/GP-INTER do Bộ VH-TTcấp ngày 09/02/2004
    ĐT: 0500.3950020 Fax: 0500.3957690 - Email: daktra@vnn.vn; daktip@vnn.vn 
Lượt truy cập: 6.174.326   



Thiết kế VDC3